Historique

  1. A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.
    A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.

    A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. 
     
    The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.

    modifié via l’API .
    Copier dans le presse-papier
  2. A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.
    A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.

    A bond is a contract between an entity that borrows money and a creditor that lends it to the entity. When you purchase a bond, you are effectively giving a loan to the bond issuer. With government bonds, also known as sovereign bonds, a national government borrows money to fund its operations. The bond specifies what interest rate (coupon) will be paid and at which times during the life of the bond and when the principal funds, also known as face value, will be returned. This is called the maturity date. Bonds are an asset class by themselves that offers more stability than stocks. 
     
    The return on a bond is known in advance, which makes them low risk investments, although the risk is related to the credit rating of the bond issuer. If the coupon rate is higher than the prevailing interest rates, a bond becomes attractive so the demand for these bonds will increase, driving up their price. If the bond interest is lower than the prevailing interest rates, their price will drop, so bonds are inversely correlated to interest rates.

    modifié par Sergey Scherbin .
    Copier dans le presse-papier
  3. Trái phiếu là một loại hình hợp đồng giữa một bên là người vay tiền và bên còn lại là người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, cũng gọi là trái phiếu tối cao, một quốc gia sẽ là bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu có quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi là phiếu) và trong suốt vòng đời của nó, lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi là mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi là ngày đáo hạn. Trái phiếu là một loại tài sản mà bản thân nó cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. Khả năng hoàn trả của một trái phiếu có thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu tư rủi ro thấp, mặc dù rủi ro này có liên quan đến tỉ suất tín dụng của bên phát hành trái phiếu. Nếu tỉ suất lãi của trái phiếu cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, nó sẽ được coi là hấp dẫn và làm kích thích cầu tăng, dẫn đến giá tăng. Ngược lại, nếu tỉ suất lãi của trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về cơ bản lợi ích của trái phiếu phải ngược lại với lãi suất.
    Trái phiếu một loại hình hợp đồng giữa một bên người vay tiền bên còn lại người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, cũng gọi trái phiếu tối cao, một quốc gia sẽ bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi phiếu) trong suốt vòng đời của , lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi ngày đáo hạn. Trái phiếu một loại tài sản bản thân cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. 
     
    Khả năng hoàn trả của một trái phiếu thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu rủi ro thấp, mặc rủi ro này liên quan đến tỉ suất tín dụng của bên phát hành trái phiếu. Nếu tỉ suất lãi của trái phiếu cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, sẽ được coi hấp dẫn làm kích thích cầu tăng, dẫn đến giá tăng. Ngược lại, nếu tỉ suất lãi của trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về bản lợi ích của trái phiếu phải ngược lại với lãi suất.
    modifié par Ethan N. .
    Copier dans le presse-papier
  4. Trái phiếu là một loại hình hợp đồng giữa một bên là người vay tiền và bên còn lại là người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, còn được gọi là trái phiếu quốc gia, chính phủ của một quốc gia sẽ là bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu có quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi là coupon) và trong suốt vòng đời của nó, lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi là mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi là ngày đáo hạn. Trái phiếu là một loại tài sản mà bản thân nó cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. Khả năng hoàn trả của một trái phiếu có thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu tư rủi ro thấp, mặc dù rủi ro này có liên quan đến xếp hạng tín nhiệm của bên phát hành trái phiếu. Nếu lãi suất coupon cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn do đó nhu cầu về trái phiếu sẽ tăng lên, đẩy giá tăng. Ngược lại, nếu lãi suất trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về cơ bản lợi ích của trái phiếu tương quan nghịch với lãi suất.
    Trái phiếu một loại hình hợp đồng giữa một bên người vay tiền bên còn lại người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, còn được gọi trái phiếu quốc gia, chính phủ của một quốc gia sẽ bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi coupon) trong suốt vòng đời của , lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi ngày đáo hạn. Trái phiếu một loại tài sản bản thân cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. 
     
    Khả năng hoàn trả của một trái phiếu thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu rủi ro thấp, mặc rủi ro này liên quan đến xếp hạng tín nhiệm của bên phát hành trái phiếu. Nếu lãi suất coupon cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn do đó nhu cầu về trái phiếu sẽ tăng lên, đẩy giá tăng. Ngược lại, nếu lãi suất trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về bản lợi ích của trái phiếu tương quan nghịch với lãi suất.
    modifié par Hoadt911 .
    Copier dans le presse-papier
  5. Trái phiếu là một loại hình hợp đồng giữa một bên là người vay tiền và bên còn lại là người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, còn được gọi là trái phiếu quốc gia, chính phủ của một quốc gia sẽ là bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu có quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi là coupon) và trong suốt vòng đời của nó, lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi là mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi là ngày đáo hạn. Trái phiếu là một loại tài sản mà bản thân nó cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. Khả năng hoàn trả của một trái phiếu có thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu tư rủi ro thấp, mặc dù rủi ro này có liên quan đến xếp hạng tín nhiệm của bên phát hành trái phiếu. Nếu lãi suất coupon cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn do đó nhu cầu về trái phiếu sẽ tăng lên, đẩy giá tăng. Ngược lại, nếu lãi suất trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về cơ bản lợi ích của trái phiếu tương quan nghịch với lãi suất.
    Trái phiếu một loại hình hợp đồng giữa một bên người vay tiền bên còn lại người cho vay. Khi một người mua một trái phiếu, người đó tạo ra một món nợ với bên phát hành trái phiếu. Với các trái phiếu chính phủ, còn được gọi trái phiếu quốc gia, chính phủ của một quốc gia sẽ bên đi vay tiền để chi trả cho các hoạt động của chính phủ. Trái phiếu quy định cụ thể về mức lãi suất (gọi coupon) trong suốt vòng đời của , lãi suất sẽ được trả bao nhiêu lần cũng như lúc nào thì số tiền gốc, được gọi mệnh giá gốc, được hoàn trả. Đây được gọi ngày đáo hạn. Trái phiếu một loại tài sản bản thân cho thấy độ ổn định cao hơn chứng khoán. 
     
    Khả năng hoàn trả của một trái phiếu thể được tính toán từ trước, làm cho đây trở thành một kênh đầu rủi ro thấp, mặc rủi ro này liên quan đến xếp hạng tín nhiệm của bên phát hành trái phiếu. Nếu lãi suất coupon cao hơn cao hơn lãi suất hiện tại, trái phiếu sẽ trở nên hấp dẫn do đó nhu cầu về trái phiếu sẽ tăng lên, đẩy giá tăng. Ngược lại, nếu lãi suất trái phiếu thấp hơn lãi suất thiện tại, giá sẽ giảm. Như vậy về bản lợi ích của trái phiếu tương quan nghịch với lãi suất.
    modifié par Hoadt911 .
    Copier dans le presse-papier